Tính ưu việt về năng suất cũng như sự thuận lợi trong sử dụng luôn khiến hàng Trung Quốc lấn lướt hàng Việt Nam, đặc biệt ở các vùng nông thôn. Về lâu dài, đây thực sự là mối hiểm họa khôn lường.

Hàng Trung Quốc lấn hàng Việt Nam, đặc biệt ở các vùng nông thôn
Chỉ vì lúa đầy bồ
Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mới đây đã đưa ra con số đáng báo động. Đó là cả nước có trên 712.000 ha lúa lai, thì có tới 70% diện tích có giống gốc nhập khẩu từ Trung Quốc. Giống lúa Trung Quốc có ưu điểm chịu thời tiết khắc nghiệt, sức sống cao và nhất là cho năng suất cao. Chính vì thế, các giống lúa lai Nhị Ưu như 63, 838, 968, 69, Đại Dương 8, Nam Dương 99… đang được các vùng nông thôn Việt Nam ưa chuộng, mặc dù giá thành cao hơn các giống lúa lai thuần chủng Việt. Ông Đào Xuân Cần, Chủ tịch Liên minh các hợp tác xã tỉnh Thái Bình cho biết, nhiều hộ nông dân nhiều năm qua vì lợi nhuận đã và đang trồng nhiều giống lúa lai nhập khẩu từ Trung Quốc. Năng suất lúa này rất cao, đạt tỷ lệ 95%, nhưng chất lượng gạo thấp. Bên cạnh đó, giá bán lúa lai Trung Quốc được đầu nậu cung ứng rất cao, từ 70.000-90.000 đồng/kg, đắt gần gấp đôi so với lúa lai nội địa. Tuy nhiên, biết là đắt nhưng tâm lý bà con “thích” đầu ra nhanh, nhiều hạt. Còn chuyện chất lượng ở mức thấp, điều này không quan trọng, vì gạo sản xuất ra vẫn có đại lý đến thu mua với giá thỏa thuận.
Tương tự như vậy, vùng lúa Thanh Hóa cũng đang phải đương đầu với sự bành trướng của giống lúa lai đến từ Trung Quốc. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa, vụ chiêm xuân năm 2012, toàn tỉnh gieo cấy được 122.614 ha lúa, trong đó diện tích lúa lai là 77.644 ha, chiếm 63,3%. Qua tổng hợp, các loại giống lúa lai được sản xuất trong nước chỉ chiếm 10-15%, còn lại nhập khẩu từ Trung Quốc với tổng số lượng giống 2.000 – 3.000 tấn/năm. Ông Nguyễn Ngọc Đức, Giám đốc Công ty cổ phần Giống cây trồng Trung ương chi nhánh Thanh Hóa nhấn mạnh, không nên trách người nông dân vì tính ưu việt của giống lúa lai Trung Quốc hơn hẳn giống lúa lai nội địa. Người nông dân ít quan tâm tới chất lượng, mà chỉ chú ý tới số lượng, làm sao lúa đầy bồ, gạo đầy thúng sau mỗi vụ cấy cày. Còn gốc giống ra sao, từ đâu tới, người nông dân không mấy quan tâm. Sự so sánh luôn ở mức giản dị và cụ thể nhất.
Theo Cục Trồng trọt, không chỉ riêng các nhóm giống lúa, hiện nay, rất nhiều loại rau, củ, quả, giống cây trồng, vật nuôi lấy thịt đang được nhập từ Trung Quốc, thông qua các công ty thương mại Việt Nam. Trên thực tế, việc nhập khẩu giống nông sản từ Trung Quốc có lãi và lãi nhanh hơn rất nhiều cho cả người sản xuất lẫn người thu mua. Tuy nhiên, sự “lệ thuộc” quá nhiều từ phía bên kia biên giới luôn khiến thị trường nội địa biến động, nhất là khi phía Trung Quốc tăng giá hoặc nguồn cung không ổn định. Điều này về lâu dài ảnh hưởng nghiêm trọng tới năng suất trong nước. “Các nhà cung cấp giống Trung Quốc thường tạo khan hiếm hàng để tăng giá. Như các giống lúa năm 2011, có thời điểm, các công ty Trung Quốc đẩy giá lên đến trên 100.000 đồng/kg. Mùa vụ tới các hộ nông dân không mua không được. Sự khó khăn ấy còn tác động trên nhiều mặt hàng khác ở các vùng nông thôn Việt Nam, khiến nhiều loại sản phẩm nông nghiệp làm ra tự nhiên đã có giá cao, ảnh hưởng tới nhiều thị trường khác”, ông Phạm Văn Dư, Cục phó Cục Trồng trọt cho biết.
Phải nhìn lại công nghệ của chúng ta
Nhận định này của TS Phan Huy Thông, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia rất đáng suy ngẫm, khi hàng năm ngành nông nghiệp Việt Nam đã tiêu tốn hàng trăm tỷ đồng cho các công trình khoa học nhằm tạo ra những gốc giống nông sản có giá trị kinh tế cao, song hiệu quả thực tế, đặc biệt là tính phổ biến tại các vùng nông thôn Việt Nam chưa được như kết quả mong đợi. Cụ thể, nhiều giống cây trồng mới qua cấy trồng lại thực sự chưa mới với chính bà con, khiến người nông dân vì mưu sinh buộc phải chọn gốc giống Trung Quốc (giá thành cao, chất lượng thấp). Đó là chưa kể đến những chương trình hỗ trợ công tác nghiên cứu giống cây trồng vật nuôi trong nước không đủ “lực sống phổ biến” để các công ty đầu tư dài hạn, trong khi nhập khẩu hạt giống về bán sẽ ít rủi ro và thu lại lợi nhuận nhanh hơn.
TS Phan Huy Thông cho rằng, sự thất thế của nông sản Việt trước hàng Trung Quốc bắt nguồn từ quản lý năng lực, cũng như sáng tạo khoa học mang tính phổ biến chưa đáp ứng được thực tiễn. Điệp khúc đổ lỗi quanh đang khiến cho nhiều diện tích nông nghiệp, trang trại Việt đã và đang được phủ trồng giống “ngoại” để cho ra những sản phẩm cấp thấp. Chứng kiến nhiều bà con sau thời gian thử trồng giống Việt mới đã nhổ lên để trồng giống Trung Quốc, thấy mà đau lòng. Nếu Nhà nước không có các chính sách cụ thể, bền vững, về lâu dài, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường trong nước, trước hết là nhu cầu, sau sẽ đến giá cả.
Thay đổi nhận thức “dùng hàng Việt” từ lúa gạo đến các mặt hàng nông sản khác không chỉ bằng lời nói mà phải bằng hành động.
Theo (ĐĐK)


